Khiêm tốn thật là nhìn mình đúng kích thước: biết rõ điều mình giỏi và điều mình chưa biết, ghi nhận phần đóng góp của người khác, và sẵn lòng học. Tự hạ là thu nhỏ mình hơn thực tế: chối lời khen, nhường quyết định mình nên chịu, im lặng khi ý kiến của mình đúng. Người có bản lĩnh khiêm tốn mà không tự hạ, và đứng vững trên năng lực thật khi bị áp lực.
Trong văn hoá công sở Việt Nam, ranh giới này hay bị mờ: nhận lời khen thẳng thắn đôi khi bị coi là kiêu, còn nói giảm mình thì được coi là lễ độ. Bài này dựa vào nghiên cứu về lãnh đạo khiêm tốn, phân biệt khiêm tốn với tự hạ qua những tình huống cụ thể, và gợi ý cách giữ chỗ đứng khi bị đẩy vào thế phải chọn giữa im lặng và nói thật về năng lực của mình.
Khiêm tốn trong nghiên cứu: không phải là nghĩ thấp về mình
Các nhà tâm lý học tổ chức thường định nghĩa khiêm tốn không phải bằng việc đánh giá thấp bản thân mà bằng việc nhìn bản thân chính xác. Bradley Owens và David Hekman, trong một nghiên cứu định tính về người lãnh đạo khiêm tốn công bố năm 2012, mô tả ba nhóm hành vi chính: thừa nhận giới hạn và sai sót của mình, làm nổi bật điểm mạnh và đóng góp của người khác, và thể hiện sự sẵn lòng học hỏi. Các nghiên cứu tiếp theo của Owens và cộng sự liên kết những hành vi này với sự gắn bó và học hỏi của nhóm.
Điều đáng chú ý là không hành vi nào trong ba nhóm đòi hỏi phải coi mình kém. Thừa nhận giới hạn khác với chối bỏ năng lực; làm nổi bật đóng góp của người khác khác với xoá đóng góp của mình. Một người dẫn dắt có thể vừa nói “phần thiết kế này em Lan làm rất tốt” vừa nói “phần định giá anh đã tính kỹ và tin là đúng”. Cả hai câu đều chính xác, và đó là khiêm tốn.
Khiêm tốn và tự hạ trong những tình huống quen
Cách phân biệt nhanh là hỏi: câu nói này có đúng với thực tế không? Khiêm tốn đúng sự thật; tự hạ thu nhỏ sự thật:
| Tình huống | Khiêm tốn | Tự hạ |
|---|---|---|
| Được khen trước nhóm | “Cảm ơn anh. Phần số liệu là của chị Hà, phần mình làm là ghép lại.” | “Có gì đâu, ai làm cũng được.” |
| Được hỏi ý kiến chuyên môn | Nêu ý kiến rõ, nói phần nào chắc phần nào chưa | “Em cũng không biết nữa, tuỳ anh chị.” |
| Được đề nghị nhận việc lớn | “Phần A em làm được, phần B em cần hỗ trợ.” | “Em không đủ sức đâu.” |
| Mắc lỗi | “Lỗi này của mình, sẽ sửa thế này.” | “Mình đúng là tệ, chẳng làm nên trò trống gì.” |
| Thương lượng lương, thù lao | Nêu mức dựa trên đóng góp và thị trường | Không dám nêu, nhận bất cứ mức nào |
Cột giữa vẫn giữ sự lịch sự và ghi nhận người khác mà văn hoá Việt coi trọng. Cột phải thì gửi đi tín hiệu sai: người nghe không biết bạn thật sự làm được gì, và dần dần họ sẽ tin đúng như những gì bạn nói về mình.
Vì sao tự hạ lại có hại
Tự hạ thường xuất phát từ ý tốt: không muốn bị coi là kiêu, muốn giữ hoà khí, sợ bị ghen tị. Nhưng nó có ba cái giá. Thứ nhất, người khác đánh giá năng lực của bạn một phần qua cách bạn nói về mình; nói giảm liên tục thì dễ bị giao việc thấp hơn khả năng. Thứ hai, khi bạn có ý kiến đúng mà nói kiểu “em không chắc lắm, tuỳ anh chị”, ý kiến đó dễ bị bỏ qua, và nhóm mất một góc nhìn có giá trị.
Thứ ba, với người dẫn dắt, tự hạ làm nhóm mất chỗ dựa. Nhóm cần biết người dẫn tin vào điều gì, chắc chắn đến đâu. Một người dẫn luôn nói “mình cũng chẳng biết”, dù để tỏ ra gần gũi, khiến nhóm lo lắng trong những lúc cần một người đứng ra. Câu “mình chưa biết, sẽ tìm hiểu và trả lời trước thứ Năm” mới là khiêm tốn có bản lĩnh.
Nhận lời khen mà không chối, không phô
Nói cảm ơn trước. Một lời cảm ơn đơn giản là đủ cho phần lớn lời khen. Chối lời khen làm người khen khó xử, như thể họ đánh giá sai.
Ghi công đúng người. Nếu có người khác góp phần, nêu tên họ cụ thể. Đừng chỉ nói chung chung “nhờ cả nhóm” nếu thật ra hai người làm phần chính.
Không cần kể thêm thành tích. Nhận lời khen rồi dừng. Tiếp theo bằng một loạt thành tích khác là chuyển từ khiêm tốn sang phô.
Với lời khen quá mức, đính chính nhẹ. “Cảm ơn anh, thật ra kết quả này còn nhờ khách quay lại nhiều đợt.” Đính chính đúng sự thật giữ được độ tin cậy.
Ghi nhận cả khi lời khen từ cấp dưới. Người dẫn dắt nhận lời khen của cấp dưới một cách trân trọng cho thấy mình coi trọng góc nhìn của họ.
Giữ chỗ đứng khi bị áp lực phải nhún
Có những lúc bị áp lực phải tự hạ: cấp trên nói “em mới vào, biết gì mà góp ý”, đồng nghiệp lớn tuổi gạt ý kiến chỉ vì tuổi, khách hàng coi thường vì người trẻ. Khiêm tốn trong những lúc đó không có nghĩa là rút lui. Một cách đáp giữ được cả lễ lẫn chỗ đứng: thừa nhận phần đúng trong lời người kia, rồi nêu ý mình bằng dữ kiện. “Đúng là em mới làm ở đây ba tháng. Số liệu ba tháng đó cho thấy tỷ lệ trả hàng tăng ở dòng sản phẩm này, nên em nghĩ cần xem lại.”
Giọng nói nên bình thường, không gay gắt, không xin lỗi. Nếu ý kiến vẫn bị gạt, có thể đề nghị gửi số liệu bằng văn bản để mọi người xem thêm. Bản lĩnh ở đây là không để thâm niên hay chức vụ của người khác quyết định giá trị ý kiến của mình, đồng thời không biến chuyện đó thành cuộc đấu thể diện.
Ví dụ giả định: trưởng phòng trẻ trong cuộc họp với đối tác
Chị Ngân, hai mươi tám tuổi, vừa lên trưởng phòng kinh doanh ở một công ty thiết bị y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong buổi họp đầu tiên với một đối tác lớn, đại diện đối tác hỏi một câu kỹ thuật về chế độ bảo hành thiết bị nhập khẩu. Chị không chắc câu trả lời. Phản xạ đầu tiên là nói vòng vo cho qua; phản xạ thứ hai là xin lỗi rối rít rằng mình mới, chưa nắm hết.
Chị chọn cách thứ ba: “Phần điều kiện bảo hành với dòng máy này, em cần kiểm lại với bộ phận kỹ thuật để trả lời chính xác. Em gửi anh bằng văn bản trước sáng mai.” Rồi chị chuyển sang phần mình nắm chắc là lịch giao hàng và đào tạo vận hành, trình bày rõ ràng. Đối tác không đánh giá thấp chị vì câu “cần kiểm lại”; điều họ để ý là sáng hôm sau văn bản đến đúng hẹn, đầy đủ.
Người dẫn dắt khiêm tốn trước nhóm
Nghiên cứu về lãnh đạo khiêm tốn gợi ý rằng khi người dẫn công khai thừa nhận mình chưa biết điều gì và hỏi nhóm, nhóm học hỏi nhiều hơn và dám nói ý kiến hơn. Điều kiện là sự khiêm tốn đó phải đi kèm năng lực thật; nếu không, nó dễ bị hiểu là yếu kém. Các nghiên cứu cũng ghi nhận rằng tác dụng có thể khác nhau tuỳ bối cảnh và văn hoá, nên không nên coi đây là công thức chung.
Trong thực tế, khiêm tốn trước nhóm có thể là những việc nhỏ: hỏi ý kiến người làm trực tiếp trước khi quyết một việc thuộc chuyên môn của họ, nói rõ mình đã sai trong một quyết định và đã học được gì, nêu tên người có ý tưởng hay trong báo cáo lên trên. Những việc này không làm người dẫn nhỏ đi; chúng cho nhóm thấy người dẫn đủ vững để không cần lúc nào cũng đúng.
Khiêm tốn giả và những dạng dễ nhầm
Khoe ngầm qua lời than. “Khổ quá, tuần này lại bị ba công ty mời về làm.” Câu nghe như than nhưng thực chất là khoe. Người nghe thường nhận ra và thấy khó chịu hơn cả khoe thẳng.
Tự hạ để được khen lại. “Bài trình bày của em chắc dở lắm.” Nếu mục đích là chờ người khác bác lại, đó không phải khiêm tốn mà là xin lời khen.
Nhường việc khó để tránh trách nhiệm. “Anh giỏi hơn em, anh quyết đi.” Đôi khi là thật lòng, đôi khi là cách né chịu trách nhiệm cho quyết định thuộc phần mình.
Im lặng để giữ an toàn. Không nói ý kiến trong họp vì sợ sai, rồi gọi đó là khiêm nhường. Khiêm tốn thật thì nói ý kiến và sẵn sàng được sửa. Nhóm cần nghe góc nhìn của mỗi người, và sự im lặng kéo dài thường bị hiểu là đồng ý hoặc không quan tâm.
Tự kiểm sau một tuần làm việc
Một bài tập ngắn giúp nhận ra mình đang nghiêng về phía nào:
- Nhớ lại những lần được khen trong tuần và cách mình đáp. Có lần nào chối bỏ hoặc phô thêm không?
- Nhớ lại những lần có ý kiến mà không nói, hoặc nói kèm quá nhiều câu rào đón. Lý do thật là gì?
- Nhớ lại những lần ghi nhận người khác: có nêu tên cụ thể không, có lần nào nhận về mình phần công của người khác không?
- Nhớ lại những lần nói “không biết”: có kèm theo việc sẽ tìm hiểu không?
- Chọn một thay đổi nhỏ cho tuần sau, ví dụ nói ý kiến trong họp mà không mở đầu bằng “em không chắc lắm”.
Làm bài tập này vài tuần sẽ thấy kiểu mẫu của mình. Người hay tự hạ thường nhận ra họ rào đón nhiều hơn mình tưởng; người hay phô thường nhận ra họ ít khi nêu tên người khác.
Câu hỏi thường gặp
Khiêm tốn có phải là ít nói về mình không?
Không hẳn. Người khiêm tốn vẫn nói về thành tích của mình khi cần, ví dụ trong buổi đánh giá hay khi giới thiệu năng lực với đối tác, miễn là nói đúng sự thật và ghi nhận phần của người khác. Điều khác biệt là không nói về mình khi không cần và không thổi phồng.
Làm sao để khiêm tốn mà không bị người khác lấn lướt?
Khiêm tốn về thái độ, rõ ràng về nội dung. Nói ý kiến bằng dữ kiện, nêu rõ phần mình chịu trách nhiệm, và không để người khác nhận công của mình mà không lên tiếng. Lên tiếng một cách bình thản về sự thật không trái với khiêm tốn.
Người hướng nội có dễ bị coi là tự hạ không?
Ít nói không đồng nghĩa với tự hạ. Người hướng nội nói ít nhưng mỗi lần nói thì rõ ràng, có cơ sở. Vấn đề chỉ xuất hiện khi họ có ý kiến quan trọng mà không nói ra, hoặc chối bỏ đóng góp của mình khi được hỏi.
Văn hoá Việt Nam coi trọng khiêm nhường, nhận lời khen thẳng có bị coi là kiêu không?
Một lời cảm ơn kèm ghi nhận người khác thường được đón nhận tốt ở hầu hết môi trường. Điều dễ bị coi là kiêu là nhận lời khen rồi kể thêm thành tích, hoặc không nhắc đến ai khác. Chối lời khen quá mức đôi khi lại làm người khen khó xử.
Người dẫn dắt thừa nhận mình không biết có làm mất uy không?
Ít khi, nếu đi kèm năng lực thật ở những phần khác và cam kết tìm hiểu. Nhóm thường tin người dẫn biết giới hạn của mình hơn người giả vờ biết mọi thứ. Mất uy thường đến từ việc không biết mà không chịu tìm hiểu, hoặc biết sai mà không chịu nhận.